Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013

Cây gai: thanh nhiệt. mọi người đọc an thai. giải độc.

Băng lại

Cây gai: thanh nhiệt, giải độc, an thai

Ngâm với 1 lít rượu trong 1 tuần. Ra huyết. Mỗi ngày uống 2 lần. Lá gai có chlorogenic acid. Loại cây sống lâu năm. Sang lở. Đắp vào. Thận. Cây gai bánh. * Làm cầm máu : Trong dân gian. Đây là cây mà dân gian vẫn dùng lá làm bánh gai ăn và sợi để dệt làm lưới đánh cá.

Sắc uống trong ngày. Mặt trên có màu lục sẫm. Viêm cổ tử cung. Còn dùng để cầm máu và trị động thai. Khi muốn cầm máu vết thương. Chỉ 1 – 2 ngày là có kết quả. Giã nát. Thân cây có sợi dừng để dệt bao bố. Không nên kéo dài. Bánh ít. Tác dụng thanh nhiệt giải độc. Đáy lá hình tim hay hơi tròn. * Trị có thai bị đau bụng. Thận; thường dùng để trị các bệnh đường tiểu như: Bí tiểu.

Chế thêm gia vị. Uống nhiều lần trong ngày. Nếu có rỉ máu thì cho thêm 10g lá huyết dụ. Ráp. Cành tử tô 2 phần (mỗi phần 4g). Liều dùng 10 – 20g. Tính hơi hàn. Động thai : Rễ gai 2 phần. Người ta rửa sạch lá.

50g. Có thể cao tới 1. Máu màu đỏ thuộc hỏa. Lá bánh gai thu hái vào mùa hè. Lá ngải cứu 1 phần (mỗi phần 12g). Để có thể áp dụng. * An thai : Rễ cây gai mới hái hoặc phơi khô 30g sắc với 600ml nước. Sau đó. Dưới đây là một số cách dùng cây gai chữa bệnh. * Dưỡng huyết an thai : Trữ ma căn tươi 50g. Giã nát đắp vào vết thương. Lá gai khi giã nát có màu đen thuộc hành thủy. Rễ được gọi là trữ ma căn.

Có thể trồng bằng gốc hay giâm cành vào mùa xuân. Tiểu ra máu. Đái rắt. * Cầm máu vết thương : Lá gai tươi rửa sạch. * Trị đại. Tiểu tiện ra máu : Lấy 15 – 20g lá gai sắc nước uống trong ngày. Cây gai còn có tên gọi là trữ ma. Có thai bị đau bụng : Rễ gai tươi 4 phần. Gạo nếp 100g; sắc trữ ma căn lấy nước nấu với gạo và hồng táo thành cháo. Phơi khô.

Tính mát. * Trị động thai: Rễ gai mới lấy hoặc đã phơi khô 30g. Sắc với 600ml nước. * Trị sa tử cung : Rễ gai khô 30g sắc với 600ml nước.

Là loài bản địa của Đông Á. Dài 7 – 15cm. Hái về rửa sạch đất phơi hay sấy khô

Cây gai: thanh nhiệt, giải độc, an thai

Đi vào hai kinh tâm. Uống liền 3 – 4 ngày. Tiểu đục. Đái buốt. Chia làm 3 lần uống trong ngày. Hình tim. Nếu khi làm bánh gai mà không có lá gai như vậy là bị thiếu chlorogenic chứa trong lá gai nên bánh chỉ để vài ngày là mốc. Lá và rễ cây này đều dùng làm thuốc. Người Kinh lấy lá cây này cốt yếu dùng để làm bánh gai. Flavonoid rhoifolin.

Tầm gai. 5 – 2m. Tiểu rắt. Băm nhỏ. Hoa mã đề và hành; sắc nước uống. Hồng táo 10 quả. Mép có răng cưa. Uống 1 – 2 ngày sẽ đỡ. Tán ứ. Trong ngũ hành. * Trị thấp khớp đau nhức các khớp : Rễ cây tầm gai (trữ ma căn).

Chia ra ăn vài lần trong ngày. An thai. Sắc với nước uống trong ngày.

Họ Gai (Urticaceae). Rễ có vị đắng. * Làm lợi tiểu : Rễ và lá nhàng nhàng 10 - 30g sắc với nước uống. Nữ giới có thai đau bụng. Cỡ còn 100ml uống hết 1 lần trong ngày. Tại Việt Nam. Thủy khắc hỏa do vậy lá gai có thể cầm được máu. Quy kinh tâm. Song theo dược lý đương đại. Lá lớn. Mặt dưới trắng vì có nhiều lông trắng.

Với tên khoa học Boehmeria nivea (L) Gaud. Xích bạch đới. Mỗi lần 10ml. Tử tô 1 phần.

Mọc so le. Cô làm 200ml. Dùng trong các trường hợp trật. Chlorogenic acid thủy phân cho acid cefeitannic và quinic; do đó lá bánh gai có tính cầm máu. Cây thường mọc hoang. Chú ý : Không phải bệnh thực nhiệt không dùng. Còn 200ml. Thấy có tác dụng cầm máu tốt. * Trị đàn bà có thai ra huyết dọa sảy. Hái vào bất cứ mùa nào. Tầm ma. Nhưng tốt nhất là vào thu đông. Rộng 4 – 8cm. Apogenin. Thông lâm.

Chia 2 lần uống trong ngày. * Trị tiểu buốt. Tán bột để làm bánh. Trong y lý của Đông y. Đông y cho rằng cây gai có vị ngọt đắng.

(Urtica nivea L). Phơi khô sắc với 400ml nước. Sạn thận : Theo sách Nam dược kì diệu (Tuệ Tĩnh) phối hợp rễ gai. * Trị tay chân tê mỏi : Rễ cây gai 15 – 20g. Có 3 gân từ cuống phát ra.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét