“Với mỗi cha đang công tác ở vùng sâu, vùng xa như chúng tôi, bên cạnh sự nhiệt huyết với nghề, rất cần sự nhiệt tình, bổn phận và cả sự hy sinh…” Hoàng Thị Tuyền cha Trường THCS Pác Pó (Hà Quảng - Cao Bằng) Hải Phong
Giờ đây, cô vừa là người mẹ vừa là người bạn của các em học sinh và cô đã trở thành thành viên thân thuộc của bản làng Nậm Cần. Cô Tuyền vẫn còn nhớ như in lần vận động được cả hai vợ chồng người dân tộc đi học. PGS. - Huơ nghề giáo: Những dấu lặng vô giá - Dùng âm nhạc để hướng thiện Cô Hoàng Thị Tuyền bàn luận bài với học trò 35 năm gắn bó với nghề Ra trường từ năm 1986, đến nay cô Hoàng Thị Tuyền – nghiêm đường Trường THCS Pác Pó (Hà Quảng - Cao Bằng) đã có hơn 35 năm gắn bó với các em học trò dân tộc thiểu số thuộc vùng có điều kiện kinh tế, tầng lớp đặc biệt khó khăn.
TS Trần Thị Chung Toàn – Trưởng khoa tiếng Nhật Trường Đại học Hà Nội – Người vừa được nhận giải thưởng anh tài sáng tạo nữ Tổng liên đoàn năm 2013 với công trình NCKH “Xây dựng tư liệu học chữ Hán trong tiếng Nhật cho người Việt trên cơ sở tận dụng tri thức Hán - Việt”
Cô Xuân tâm can: “Tôi cảm thấy hạnh phúc khi thấy con chữ đã về với các em, về với bản làng. Cô kể: Do ảnh hưởng của phong tục tập quán, một bộ phận dân tộc ít người như: Mông, Dao,… có phong tục lấy vợ, lấy chồng sớm. Những người làm NCKH chính yếu phải tự nghiên cứu, mày mò như những con ong chăm chỉ tích lũy kiến thức cho xã hội, may mắn lắm được giải thưởng này, giải thưởng kia thì mới có người biết và quan hoài đến.
Cô Toàn phân vua: NCKH là một công việc âm thầm, lặng lẽ, làm không vì khen thưởng và không vì danh vọng.
Do đó để các em không bỏ học, cô đã không quản khó khăn, vất vả bám trường, bám lớp, đầu tư nhiều thời kì để nắm bắt tâm tư, tình cảm của các em, từ đó động viên, khuyến khích các em hăng say học tập và đến lớp đầy đủ. Thế nhưng, đó lại là một niềm hạnh phúc rất riêng, rất âm thầm, giúp họ có thể vượt qua các nghiên cứu đầy thử thách.
Cho đến giờ hai vợ chồng học trò đó vẫn đến thăm cô, tâm tình với cô về cuộc sống
Lúc bấy giờ có học trò lớp 7 người dân tộc Mông bỏ học về nhà lấy chồng, cô đã phải lặn lội hàng chục cây số, đến từng nhà rất nhiều lần để khích lệ các em đi học, sau bao nhiêu khó nhọc, vậy, chung cuộc cô đã vận động được cả 2 vợ chồng tiếp chuyện đi học. Trọng điểm trường cách xa huyện lị, đường sá đi lại hiểm trở, khó khăn, lớp cô cáng đáng lại là một lớp có nhiều đối tượng học sinh.
Thỉnh thoảng phụ huynh hoặc học sinh nhớ cô giáo đến tặng một vài củ sắn, củ khoai, vài cân ngô hay mấy bông khoa rừng cùng những lời chúc vẫn còn bẽn lẽn, vụng về, những tình cảm thiêng liêng, rất mực mộc mạc, giản dị và thật tình. Cô đã dạy các em từng mặt chữ, từng con số trong hoàn cảnh còn khó khăn, thiếu thốn đủ bề, những bài giảng được soạn bên những bữa ăn chỉ có rau rừng và được soạn tranh thủ khi còn ánh nắng kim ô …Thế nhưng cô đã đem khôn xiết mình để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng khó.
Cô Phạm Thị Xuân cùng các em học trò Trường tiểu học Nậm Cần trong giờ học môn tiếng Việt Nỗi lòng GV vùng khó Cô giáo Phạm Thị Xuân – Trường Tiểu học xã Nậm Cần, (Tân Uyên - Lai Châu) người đã có 35 năm trong ngành giáo dục và 25 năm trực tiếp làm thuê tác giảng dạy học sinh tiểu học tại những địa bàn thuộc vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn với 100% học sinh là con em các dân tộc thiểu số, phần lớn gia đình học trò có tình cảnh khó khăn.
Cô Tuyền phân trần: “Đôi khi hạnh phúc của người thầy chỉ cần như thế là đủ”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét