Tuy nhiên, ông Mạnh cho rằng, bên cạnh đó cũng còn một số hạn chế như: Hệ thống thông tin ĐKKD quốc gia chưa tích hợp đầy đủ các loại hình doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp thành lập tại khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghiệp, các tổ chức khoa học và công nghệ, tổ chức tín dụng và các loại hình kinh dinh khác… Cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp chưa đầy đủ; quy trình hợp nhất trong lưu trữ giữa cơ quan ĐKKD và ngành Thuế trong cấp chung mã số doanh nghiệp cũng chưa hợp nhất
Chính thành ra, Cơ quan Đăng ký kinh dinh xác định nhiệm vụ trong năm 2013 phảitiếp tục triển khai các hoạt động hướng tới mục tiêu trọng tâm là đưa sờ soạng các pháp nhân hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế giao hội vào một hệ thống thông báo độc nhất là hệ thống thông báo ĐKDN quốc gia. Theo đó, cộng đồng doanh nghiệp, các cơ quan quốc gia sẽ được tiếp cận với khối thông báo chính thống và cập nhật về tình trạng pháp lý của doanh nghiệp, góp phần nâng cao tính sáng tỏ của thị trường và phục vụ công tác hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô.
Có thể nói, việc xây dựng thành công hệ thống thông báo ĐKDN nhà nước góp phần nâng cao khả năng giám sát của cơ quan quốc gia và cộng đồng đối với hoạt động của doanh nghiệp.
Song song, tăng cường chuẩn hóa dữ liệu về ĐKDN nhằm sớm cung cấp cho cộng đồng những thông báo xác thực, cập nhật, có giá trị pháp lý về doanh nghiệp, góp phần sáng tỏ hóa thị trường và tăng tỷ lệ số hóa hồ sơ ĐKDN để từng bước kiện toàn việc tin học hóa nghiệp vụ trên khuôn khổ cả nước. Thực hiện đích phát triển các ứng dụng trên hệ thống, Cục Quản lý Đăng ký kinh doanh đã khai triển xây dựng, sửa đổi, nâng cấp, phát triển các áp dụng phần mềm để tiến tới hoàn thiện các chức năng của hệ thống, đặc biệt là chức năng ĐKDN qua mạng.
Theo đó, xây dựng áp dụng ĐKDN qua mạng điện tử với các hợp phần: Chữ ký điện tử, thanh toán điện tử, chữ ký chuyên dụng của cơ quan đăng ký kinh doanh; Xây dựng vận dụng cảnh báo/vi phạm/thu hồi và ĐKDN; Xây dựng ứng dụng đăng bá cáo doanh nghiệp điện tử và khai triển thể nghiệm tại 5 địa phương: TP. Đặc biệt, với khối dữ liệu đầy đủ và cập nhật về tình hình ĐKDN, lần trước nhất cơ quan nhà nước đã thống kê kịp thời số lượng doanh nghiệp đăng ký trở lại hoạt động và trong quý I/2013, số lượng doanh nghiệp tạm ngừng và đã quay trở lại hoạt động là 7.
Bên cạnh đó, cơ quan đăng ký kinh doanh cũng tiến hành xây dựng cổng thông tin ĐKDN quốc gia nhằm cung cấp cho cộng đồng các tính năng về ĐKDN trực tuyến, thẩm tra tên doanh nghiệp, kiểm tra, hiệu chính thông báo đăng ký kinh doanh và các dịch vụ cung cấp thông báo doanh nghiệp và đăng bố cáo doanh nghiệp.
Cụ thể, quy định về quy trình thảo luận, hấp thu và cập nhật, bổ sung một số thông báo quan trọng về ĐKDN, cập nhật tự động và trực tính về tình trạng hoạt động của các doanh nghiệp từ cơ sở dữ liệu thuế sang cơ sở dữ liệu đăng ký kinh doanh.
Như vậy, sự ra đời của hệ thống đóng một vai trò quan yếu trong việc thiết lập cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp, làm cứ thực tại cho công tác hoạch định chính sách vĩ mô, triển khai kết hợp giữa các cơ quan quốc gia trong việc quản lý doanh nghiệp, từ khi thành lập cho đến khi giải tán.
Ảnh minh họa. Do trước đây các địa phương lưu trữ, quản lý dữ liệu một cách độc lập và theo các tiêu chí khác nhau; dữ liệu doanh nghiệp chưa được công khai và không có sự giám sát của các bên can hệ.
Hiện giờ, việc xử lý, đính chính, cập nhật thông tin sai lệch của doanh nghiệp giữa hai hệ thống đã được thực hiện trực tính với sự kết hợp giữa cơ thuế quan và cơ quan đăng ký kinh doanh các cấp. Khởi hành từ lý do đó, công tác cách tân đăng ký kinh dinh trong Thời gian qua đã tụ hợp xây dựng hệ thống thông báo ĐKDN quốc gia, nhằm thực hiện các đích như chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ ĐKDN trên khuôn khổ toàn quốc.
(EFinance số 120 Ngày 15/06/2013) - Xây dựng cơ sở dữ liệu nhà nước về đăng ký doanh nghiệp (ĐKDN) duyệt cổng thông tin ĐKDN quốc gia, nhằm cung cấp cho cộng đồng các tính năng về ĐKDN trực tuyến, rà tên doanh nghiệp, rà, hiệu chính thông báo đăng ký kinh doanh và các dịch vụ cung cấp thông tin doanh nghiệp, đăng bố cáo doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, chúng ta chưa có hệ thống hạ tầng trang thiết bị để có thể thực hiện việc số hóa tài liệu và lưu trữ dữ liệu.
Theo đó, Thông tư số 01 ra đời đã hình thành khung pháp lý cho việc thực hành ĐKDN qua mạng điện tử, vận dụng chữ ký điện tử trong ĐKDN; xây dựng cơ chế khai phá và dùng CNTT trên cổng thông báo ĐKDN quốc gia; quy chế vận hành hệ thống thông báo ĐKDN nhà nước; Quy chế vận hành hệ thống thông báo ĐKDN nhà nước. Cụ thể là đưa các loại dường như: nhà băng, tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp khoa học công nghệ, cộng tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Sau quá trình xây dựng các vận dụng phần mềm mới, hệ thống đã được tiến hành kiểm thử các phiên bản ứng dụng, Đồng thời tiến hành triển khai một số nhiệm vụ nhằm từng bước hoàn thiện cơ sở dữ liệu về ĐKDN. Dẫn tới thông báo thỉnh thoảng không được cập nhật, dữ liệu của một số doanh nghiệp chưa được đồng bộ giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ thuế quan, nên khi chuyển đổi sang cơ sở dữ liệu quốc gia bị trùng, bị lệch thông tin.
645 doanh nghiệp. Trên thực tế, việc quản lý doanh nghiệp sau đăng ký thành lập luôn là thách thức đối với cơ quan quản lý các cấp.
Sự ra đời của cơ sở dữ liệu nhà nước về ĐKDN góp phần tăng cường tính minh bạch của thông tin doanh nghiệp, hướng tới cung cấp cho cộng đồng và các cơ quan quản lý nhà nước những thông tin xác thực, cập nhật và kịp thời về các doanh nghiệp Việt Nam.
Đồng thời, thiết lập cơ chế kết hợp và san sớt thông báo giữa các cơ quan quản lý quốc gia ở cấp trung ương và địa phương. Bên cạnh đó, việc số hóa tài liệu hồ sơ bằng cách chuyển đổi vơ tài liệu, hồ sơ ĐKDN bản giấy sang bản điện tử để đưa vào hệ thống ĐKDN được tiến hành triển khai thử nghiệm tại 3 địa phương là: thành phố Đà Nẵng, Phú Thọ và Thái Nguyên.
Sẽ hoàn thiện cơ sở dữ liệu Sau gần 5 năm khai triển nhiệm vụ cách tân đăng ký kinh dinh với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông báo ĐKDN nhà nước hợp nhất trên khuôn khổ toàn quốc và tích hợp với cơ sở dữ liệu của cơ thuế quan các cấp, có thể thấy công tác kết hợp giữa hai cơ quan là nhân tố quan trọng góp phần vào những kết quả có được của ngày bữa nay.
(Hương Thảo). Cũng duyệt y hệ thống này, một cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN với thông tin được tích hợp đầy đủ và hợp nhất từ cơ sở dữ liệu doanh nghiệp tại 63 tỉnh, thành thị sẽ được hình thành. Cũng vì lý do này, các cơ quan quản lý nhà nước khá thụ động trong việc hoạch định chính sách, xây dựng cơ chế quản lý sao cho hạp với đề nghị thực tiễn. Do đó, tỷ lệ thông tin doanh nghiệp cần rà và hiệu chính còn lớn so với tổng số dữ liệu về doanh nghiệp có được.
Hệ thống mỏng về tình hình doanh nghiệp do cơ quan đăng ký kinh dinh cung cấp đã trở thành nguồn thông báo chính thức, kịp thời phục vụ Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương. Đến nay, về căn bản tất tật dữ liệu doanh nghiệp trong năm 2011 của thành phố Đà Nẵng đã được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN.
Dự kiến, cổng thông báo ĐKDN quốc gia sẽ được hoàn thiện và giới thiệu đến cộng đồng trong quý III/2013. Hơn nữa,trước đây chưa có quy trình thống nhất giữa hai lĩnh vực đăng ký kinh dinh và đăng ký thuế về cấp chung mã doanh nghiệp, nên việc lưu trữ và bảo quản, tra khảo hồ sơ chưa được chú trọng. Một điều quan trọng nữa là cầnnâng cao chất lượng công tác đăng ký kinh dinh tại địa phương để bảo đảm cho người dân và doanh nghiệp có thể tiếp cận được các dịch vụ công một cách thuận lợi theo hướng triệt để thực hành nguyên tắc “tiền đăng, hậu kiểm” trong quản lý doanh nghiệp, tách bạch đăng ký kinh doanh với các quy trình cấp phép kinh dinh sau thành lập doanh nghiệp.
Thực tại, hệ thống thông tin ĐKDN quốc gia được chính thức đưa vào vận hành trên khuôn khổ toàn quốc từ 01/01/2011, cho phép hơn 600 cán bộ đăng ký kinh doanh tại 63 tỉnh, thị thành tác nghiệp cùng lúc để thực hành nghiệp vụ ĐKDN. Có thể nói, việc thống nhất được thủ tục đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế thành ĐKDN được nhiều người coi là hình mẫu thành công của sự đồng thuận và kết hợp trong hai lĩnh vực đăng ký kinh doanh và thuế.
Có nhiều duyên cớ, nhưng cơ bản là do nhà nước thiếu thông tin chuẩn xác và cập nhật về thị trường, về tình hình đăng ký, hoạt động, giải tán của doanh nghiệp.
Thời kì qua, xác định nhiệm vụ phát triển hạ tầng hệ thống là đề nghị thiết yếu, nhằm đảm bảo sự vận hành ổn định, liên tiếp của hệ thống, Cục Quản lý Đăng ký kinh dinh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đã khai triển việc xây dựng hệ thống dự phòng và chuyển một phần cơ sở dữ liệu của hệ thống sang trọng tâm dữ liệu số 02.
Tự động hóa quy trình quản lý Ông Lê Quang Mạnh, Cục trưởng Cục Quản lý Đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết: Thời gian qua, chương trình canh tân ĐKKD đã thu được những kết quả tích cực, đóng góp vào việc cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam.
Cụ thể, ngày 21/01/2013, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 01/2013/TT-BKH chỉ dẫn về ĐKDN thay thế Thông tư số 14/2010/TT-BKH chỉ dẫn một số nội dung về hồ sơ, trình tự, thủ tục ĐKDN quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP về DKDN.
Trên cơ sở đó, cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ nối khai triển các hoạt động để nâng cao vai trò quản lý doanh nghiệp theo nhiệm vụ được giao tại Đề án đổi mới quản lý quốc gia sau đăng ký thành lập do Thủ tướng Chính phủ chuẩn y. Đáng chú ý, khung pháp lý về ĐKDN ngày một được hoàn thiện theo hướng minh bạch và hiệu quả.
Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Dương, Hưng Yên và Quảng Ninh; Nâng cấp ứng dụng hiệu đính dữ liệu hiện tại và xây dựng phần mềm tải tài liệu đính kèm lên hệ thống phục vụ cho chương trình số hóa thông tin và chuẩn hóa dữ liệu về ĐKDN; Cập nhật thông báo tự động và trực tính về các thể hoạt động của doanh nghiệp từ cơ sở dữ liệu ngành Thuế. Tự động hóa một số quy trình, nhằm giảm tối đa sự can thiệp trực tiếp của cán bộ làm mướn tác đăng ký kinh dinh vào các quy trình nghiệp vụ.
Thực hiện quy trình đăng ký kinh doanh như các doanh nghiệp thông thường khác. Thêm vào đó, công tác thưa tình hình ĐKDN theo tháng, quý, năm, đã được hệ thống hóa để đáp ứng các yêu cầu liền tù tù và đột xuất trong việc cung cấp dữ liệu và phân tích về tình trạng tồn tại, cơ cấu ngành nghề, loại hình thành lập của các doanh nghiệp trong nền kinh tế tại từng thời khắc.
Với số liệu tổng hợp từ cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN, cơ quan nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp đã có thông báo chính xác và cập nhật về tình hình ĐKDN trên khuôn khổ toàn quốc như: số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, số doanh nghiệp giải thế, số doanh nghiệp gặp khó khăn phải dừng hoạt động.
Đáng để ý, việc thu nhận, cập nhật và bổ sung dữ liệu doanh nghiệp từ cơ sở dữ liệu của cơ thuế quan sang cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN , Cục Quản lý Đăng ký kinh doanh đã kết hợp hiệu quả với Tổng cục Thuế trong việc xây dựng quy chế kết hợp xử lý các lỗi giao tiếp giữa hai cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ thuế quan. Phê duyệt quá trình phối hợp, có thể thấy một nhiệm vụ dù khó khăn, thách thức đến mấy, nhưng khi có sự đồng tình, đồng lòng và kiên tâm cao của các cơ quan quản lý nhà nước, tất sẽ tìm được hướng đi và sẽ có được những thành quả một mực.
Bên cạnh đó,cơ sở dữ liệu nhà nước về ĐKDN cũng chưa được hoàn thiện. Cụ thể, công tác soát, đối chiếu và hiệu đính nhằm chuẩn hóa dữ liệu doanh nghiệp đã được khai triển thực hành tại 17/63 địa phương. Từ đó, dữ liệu về ĐKDN tại hệ thống là thông tin gốc có giá trị pháp lý cao nhất và chỉ có cán bộ đăng ký kinh doanh được truy cập.
Trong thời kì qua, các kết quả của công tác cải cách đăng ký kinh dinh đã được cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế đánh giá cao. Song song, các quy định về việc công khai hóa thông báo về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tại thông tư cũng sẽ góp phần quan yếu vào việc minh bạch hóa môi trường kinh dinh.
Từ những công việc nhỏ nhất và hàng ngày như đối chiếu dữ liệu của từng doanh nghiệp đăng ký qua hệ thống, cho đến việc hợp nhất về chủ trương, chính sách để nối hoàn thiện các bước cải cách; tuốt tuột đều là kết quả của công tác phối hợp chém, liên tiếp và hiệu quả của cán bộ thuế và đăng ký kinh doanh các cấp.
Trong đợt đầu triển khai thử nghiệm tại các tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương và Hưng Yên đã có 91,5% các doanh nghiệp tiến hành thực hành hiệu đính thông tin. Sự không nhất quán về chất lượng thông tin cũng khiến cho công tác kết hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước tại trung ương và địa phương chưa đích thực hiệu quả, không đem lại những kết quả mang tính hệ thống, có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài.
Cơ sở dữ liệu được chuyển bao gồm: cơ sở dữ liệu đề phòng của hệ thống ĐKDN căn bản do các Phòng Đăng ký kinh dinh sử dụng; cơ sở dữ liệu của các hệ thống đăng ký kinh doanh qua mạng điện tử, chữ ký điện tử, tính sổ điện tử, thưa tài chính, cung cấp thông báo doanh nghiệp; chuyển hệ thống đường truyền dự phòng của trọng tâm dữ liệu số 01 tại Cục Quản lý Đăng ký kinh doanh sang trọng tâm dữ liệu số 02 tại trọng tâm dữ liệu Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét